XƠ GAN
Monday, 06 April 2009 21:21
Giải độc gan
Đại cương Xơ gan là một bệnh mạn tính toàn thân tổn thương chủ yếu là cấu trúc của gan bị biến dạng do sự tăng sinh và xơ hóa của tổ chức gan, hình thành các cục tại mô gan. Biểu hiện lâm sàng chủ yếu là chức năng gan giảm và một loạt triệu chứng do tăng áp lực tĩnh mạch cửa. Căn cứ vào các triệu chứng lâm sàng khác nhau mà y học cổ truyền thường mô tả trong các chứng: ‘Tích Tụ’, ‘Cổ Trướng’, ‘Phúc Trướng’ [Linh Khu], 'Thủy cổ" (Cảnh Nhạc Toàn Thư)... Nguyên Nhân Những nguyên nhân thường gặp theo y học hiện đại là: l. Viêm gan do vi rút. 2. Dinh dưỡng kém và nghiện rượu. 3. Nhiễm độc hóa chất như Thạch tín... Hoặc do tắc mật kéo dài gây xơ gan, thường rất ít gặp. Theo y học cổ truyền thì sự hình thành của xơ gan có liên quan đến 3 tạng Can, Tỳ và Thận. Nguyên nhân chính là do khí trệ, huyết ứ, thủy thấp ứ đọng trong cơ thể dẫn đến làm hư tổn thận âm, thận dương. Có thể giải thích cơ chế các triệu chứng bệnh lý như sau: Chứng hoàng đản và tích tụ trực tiếp ảnh huởng đến tạng Can. Can tàng huyết, thích sơ tiết, bệnh lâu ngày, Can không được thông điều sinh ra can khí uất sẽ ảnh hưởng đến chức năng của tỳ vị (can vị bất hòa, tỳ vị hư nhược). Trên lâm sàng thường có các triệu chứng như ngực sườn đầy tức, ợ hơi, nôn, buồn nôn, chán ăn, tiêu lỏng... bệnh lâu ngày khí trệ sinh ra huyết ứ, biểu hiện các triệu chứng mạn sườn đau tức tăng cố định, môi lưỡi tím thâm, các hội chứng ứ huyết, xuất huyết. Mặt khác, nếu do ăn uống thiếu thốn thất thường, nghiện rượu quá độ cũng làm tổn thương tỳ vị, chức năng tỳ vận hoá kém nội sinh thấp nhiệt, tân dịch bị tổn thương. Nếu cảm nhiễm trùng độc hoặc hóa chất độc hại cũngđều do tác hại can tỳ mà sinh bệnh. Bệnh lâu ngày sẽ tổn hại thận, thận dương hư tiểu khó khăn, phù và cổ trướng nặng hơn, thận âm hư dẫn tới can thận âm hư, can hỏa vượng, can huyết hao tổn, can phong động sinh co giật hôn mê... Tóm lại bệnh xơ gan giai đoạn đầu chủ yếu là tổn thương can tỳ, khí ứ, huyết trệ, vào glai đoạn cuối tạng thậân cũng bị tổân thương sinh ra tỳ thận dương hư và can thâïn âm hư, bệnh trầm trọng và khó trị. Triệu Chứng - Giai đoạn bắt dầu: Chức năng gan còn bù trừ, triệu chứng lâm sàng thường không rõ hoặc rất nhẹ, chủ yếu triệu chứng rối loạn tiêu hóa như ăn không biết ngon, tiêu lỏng, người bệnh cảm thấy mệt mỏi, đau nhẹ, hơi tức vùng bụïng trên bên phải hoặc đầy bụng, nôn hoặc buồn nôn. Khám gan hơi to (có thể không to), có bệnh nhân lách to. Chức năng gan bình thường hoặc hơi suy giảm, có thể khám kỹ phát hiện điểm ứ huyết, mạch sao mà xác định bệnh. - Giai đoạn toàn phát: Chức năng gan suy giảm rõ. Lâm sàng biểu hiện triệu chứng rối loạn tiêu hóa tăng, mạn sườn bên phải đau rõ, sụt cân, da xạm, có bệnh nhân vàng da, vàng mắt, điểm ứ huyết, mạch sao ở mặt, ngực, tay, vai, cổ.. . hoặc có hiện tượng giãn mao mạch, bàn tay, đầu ngón tay đỏ mập lên, chân răng, mũi, trĩ, xuất huyết, tiêu có máu, phụ nữ kinh nguyệt nhiều kéo dài, hoặc có triệu chứng hoa mắt, chóng mặt, tim hồi hộp, ít ngủ, chân tay tê dại, ngứa, tiểu ít, hoặc tiểu khó, cổ chân phù, bụng có nước nhẹ. Khám gan thấy có thể eo nhỏ hoặc to dưới bờ sườn, bờ sắc cứng. - Giai doạn cuối: Triệu chứng tăng áp lực tĩnh mạch rõ: cổ trướng, da bụng bóng, tuần hoàn bàng hệ, tiểu rất ít hoặc vô niệu, khó thở, người gầy, sắc mặt xạm tối, da mặt vàng đậm, bệnh nặng có xuất huyết tiêu hóa, tinh thần lờ đờ, buồn ngủ hoặc hưng phấn, hốt hoảng, hôn mê gan... Điều Trị Theo sự phân tích về cơ chế sinh bệnh và theo y học cổ truyền thì trong bệnh xơ gan, bệnh lý chủ yếu là can huyết ứ trệ, cho nên phép chữa chính là hoạt huyết hóa ứ và trong quá trình điều trị cần phân biệt rõ các mặt tiêu bản, hư thực, hoãn cấp để chọn phép chữa thích hợp, chủ yếu theo 3 giai đoạn bệnh mà biện chứng luận trị. l- Giai đoạn đầu: Triệu chứng: Bệnh mới bị, bệnh nhân còn khỏe. Điều trị: Hoạt huyết, hóa ứ kiêm điều can lý tỳ. Bài thuốc: Dùng bài Huyết phủ trục ứ thang gia giảm: Huyết phủ trục ứ | Qui xuyên | 12 | Xích thược | 15 | Ngưu tất | 12 | Đào nhân | 16 | Xuyên khung | 6 | Cát cánh | 6 | Cam thảo | 4 | Hồng hoa | 12 | Sinh địa | 12 | Ngũ linh chi | 6-8 | Chỉ sác | 8 | Đan sâm | 12 | Miết giáp | 12 | | | | |
Gia giảm: Mệt mỏi nhiều, thêm Hoàng kỳ, Đảng sâm, Bạch truật, Bạch linh để ích khí kiện tỳ. Ăn ít, bụng đầy, bỏ Miết giáp thêm Mạch nha, Sơn tra, Thần khúc để tiêu thực . Miệng khô, tiêu ít, vàng, da nóng, vàng da, rêu lưỡi vàng dày, mạch Sác... có triệu chứng thấp nhiệt, bỏ Miết giáp, Đào nhân, Hồng hoa thêm Nhân trần, Chi tử, Liên kiều, Xa tiền, Trạch tả... Có triệu chứng hư nhiệt như sốt lòng bàn chân, bàn tay nóng, lưỡi thon đỏ, mạch Tế Sác, bỏ Đào nhân, Hồng hoa thêm Tri mẫu, Địa cốt bì, Hạn liên thảo, Mạch môn, Ngũ vị tử... để thanh hư nhiệt. Ngủ kém thêm Táo nhân sao, Bá tử Nhân... để dưỡng tâm, an thần. 2. Giai đoạn toàn phát: Triệu chứng: Chức năng gan suy giảm, cơ thể bệnh nhân yếu, đau hoặc không nhưng có phù, bụng đầy, có nước, vùng gan đầy tức... bệnh biểu hiện hư thực lẫn lộn. Điều trị: Sơ can, hoạt huyết, kiện tỳ, lợi thủy. Bài thuốc: Dùng bài Tiêu dao tán thêm Ngũ bì ẩm gia giảm: | Sài hồ | 12 | Bạch truật | 12 | Đan sâm | 12 | Đại phúc bì | 8 | Qui đầu | 12 | Bạch linh | 12 | Chỉ thực | 8 | Tang bì | 12 | Xích thược | 10 | Đẳng sâm | 12 | Trần bì | 8 | Sinh khương | 3 | | | | | | |
Gia giảm: Mạn sườn đau nhiều, gan lách to, có nốt ứ huyết thêm Đương quy vĩ, Xuyên sơn giáp, chế Hương phụ, Uất kim để tăng thêm tác dụng hành khí, hoạt huyết. Có triệu chứng huyết hư thêm Bạch thược, Thục địa, Hà thủ ô, Kỷ tử, Hoa hòe để bổ huyết, chỉ huyết. Can thận âm hư, sốt nhẹ, lòng bàn chân tay nóng, chất lưỡi thon đỏ, mạch Huyền Tế cần thêm thuốc tư dưỡng can thận như Sa sâm, Mạch môn Ngũ vị tử, Sinh địa, Nữ trinh tử, Câu kỷ tử, Bạch thược, Hạn liên thảo... 3. Giai đoạn cuối: Triệu chứng: Đến giai đoạn cuối thì cơ thể người bệnh đã quá suy yếu do chính khí hư nhưng cổ trướng lại tăng (tà khí thực) nên phép chữa phải dùng vừa công vừa bổ, cần chú ý nắm nguyên tắc ‘cấp trị tiêu, hoãn trị bản’, phép trị bản chủ yếu bổ khí huyết, sơ Can, kiện tỳ. Trị tiêu chủ yếu là công trục cổ trướng... Phép trị: Bổ khí huyết. Bài thuốc: Dùng bài Bát trân thang, Thập toàn đại bổ gia giảm tùy tình hình bệnh. bat trân thang | Đẳng sâm | 16 | Bạch truật | 12 | Bạch linh | 12 | Cam thảo | 6 | Qui đầu | 12 | Thục địa | 20 | Bạch thược | 12 | Xuyên khung | 8 | Hoàng kỳ | 12 | Đan sâm | 12 | Hoài sơn | 12 | Sa tiền | 12 | Ý dĩ | 12 | Trích thảo | 4 | Kỉ tử | 12 |
Gia giảm: Tỳ thận dương hư, ăn kém, tiêu lỏng, mặt xạm, lưng đau, bàn chân phù, chân tay lạnh, lưỡi bệu, rêu trắng, mạch Trầm, Trì, Huyền, cần ôn bổ tỳ thận, dùng bài thuốc gồm các vị chế Phụ tử, Nhục quế, Xuyên ngưu tất, Phòng kỷ, Can khương, Bạch linh, Bạch truật, Trạch tả... Trường hợp can thận âm hư, hoa mắt, chóng mặt, ù tai, mắt khô, ít ngủ, lưỡi đỏ, ít rêu, mạch Huyền Tế Sác... cần tư dưỡng can thận, dùng bài thuốc gồm các vị: Hà thủ ô, Kỷ tử, Sinh địa, Mạch môn, Sa sâm, Thạch hộc, Đan sâm, Kê huyết đằng, Quy bản, Miết giáp... Trường hợp xuất huyết nhiều (nôn ra máu hoặc tiêu ra máu, hôn mê gan, cần xử trí cấp cứu kết hợp Đông Tây Y Chú ý đối với những bệnh nhân có xuất huyết, có bệnh tim, người bệnh quá suy kiệt, không nên dùng phép trục thủy. Lúc dùng phép trục thủy nên kết hợp Tây y truyền dịch để tránh được trạng thái mất nước tổn hại chân âm. Có thể dùng thang Lý Ngư Xích Tiểâu Đậu Thang: Cá chép 1 con 500g, đánh vảy sạch, bỏ lòng ruột. Xích tiểu đậu 60g, không cho muối, nấu chín nhừ lọc qua vải lấy nước uống, ngày uống 1 thang, uống liền trong 2-3 tuần có kết qủa tốt.
VIÊM GAN B
Monday, 06 April 2009 21:16
Giải độc gan
I Đại cương Viêm gan B là một bệnh do virut viêm gan B (VRVGB) gây ra bệnh viêm gan. Hiện có trên 330 triệu người mang siêu vi B, tập trung chủ yếu ở các nước đang phát triển. Virut viêm gan B chủ yếu lây truyền qua đường máu như mẹ truyền sang con, lây qua đường tình dục, truyền máu, tiêm chích, . . . Bệnh này có các triệu chứng chủ yếu là vàng da, vàng mắt, tiểu tiện vàng dắt. phần nhiều thường thấy ở tuổi trung niên và trẻ em, bệnh thuộc phạm vi chứng hoàng đản của đông y I Chẩn đoán: Bệnh viêm gan B có thể chẩn đoán bằng xét nghiệm máu: HBsAg dương tính. Chứng tỏ đã hoặc đang nhiễm virut viêm gan B. Bạn nên làm thêm các xét nghiệm đánh giá chức năng gan, siêu âm gan, … để xác định mức độ mắc bệnh của mình. II. Lâm sàng 1. Nhiễm trùng cấp tính Nhiễm VRVGB cấp tính có biểu hiện giống cảm cúm, thỉnh thoảng có cảm giác buồn nôn, ói mửa. Ðôi khi, nhiễm trùng cấp có thể nặng hơn với triệu chứng vàng da, vàng mắt, đau bụng, nước tiểu sẫm màu. 2. Nhiễm trùng mạn tính Một số trường hợp nhiễm VRVGB hồi phục hoàn toàn, nhưng một sổ chuyển thành “người mang trùng mạn tính”. Giai đoạn này kéo dài nhiều năm, Hầu như không có triệu chứng gì rõ ràng, nhiều khi chỉ tình cờ phát hiện ra do xét nghiệm máu trong khi khám sức khỏe, nhưng cuối cùng dẫn tới những hậu quả nghiêm trọng như xơ gan, ung thư gan. Vì vậy, chúng ta nên điều trị bệnh sớm nhằm đào thải virut, ngăn ngừa hoặc làm chậm quá trình xơ gan. 3. Điều trị Đông y cho rằng viêm gan B là do Tỳ hư không bài trừ được thấp, thấp nhiệt khu trú trong gan gây ra, do vậy bệnh thường phát ra ở những người thể tạng Tỳ hư, nóng trong, hay uống rượu, ăn ngọt, mặn, béo quá nhiều. Do vậy theo nguyên tắc chung để chữa bệnh này là làm mát gan, khỏe gan, đồng thời bài trừ thấp nhiệt (bài trừ virut), Từ đó đào thải toàn bộ, hoặc một phần lượng siêu vi B trong cơ thể, đặc biệt ở trong gan loại trừ hoặc giảm thiểu tình trạng viêm gan, do đó ngăn ngừa, giai đoạn xơ gan, ung thư gan. Thuờng dùng bài tiêu dao tán, hoặc Nhu can thang gia giảm Viêm gan siêu vi được coi là bệnh lây lan thường gặp. Tỉ lệ phát bệnh khá cao, tính chất lây truyền mạnh và đường lây cũng phức tạp. Hiện nay, người ta thường gặp có 3 loại siêu vi gây viêm gan: + Viêm gan Siêu vi A, B, D, Triệu chứng lâm sàng chủ yếu của bệnh là mệt mỏi, chán ăn, sợ mỡ, nôn hoặc buồn nôn, vùng gan đau hoặc đầy tức vùng thượng vị, nhiều bệnh nhân vàng da và sốt, gan to ấn đau kèm theo suy giảm chức năng gan... Nguồn bệnh là người bệnh và người mang vi rút. Đường lây viêm gan siêu vi A chủ yếu là đường tiêu hóa (qua miệng), viêm gan siêu vi B và viêm gan siêu vi không A không B chủ yếu là đường máu (tiêm, châm, phẫu thuật, vết thương chảy máu...). Nguyên Nhân Theo YHCT
Dựa vào các triệu chứng lâm sàng của viêm gan siêu vi thì bệnh thuộc phạm trù các chứng Hoàng Đản, hoặc Hiếp Thống. Theo YHCT, nguyên nhân bệnh chủ yếu là do cảm nhiễm thấp nhiệ bên ngoài, uất kết ở Tỳ Vị, chức năng vận hóa rối loạn gây nên chán ăn, đầy bụng, ảnh hưởng đến Can Đởm, gây nên khí huyết ứ trệ, ha sườn đau, bụng đầy, mật ứ, miệng đắng.Thấp nhiệt thịnh nung đốt bì phu sinh ra vàng da (hoàng đản). Ăn uống không điều độ, uống nhiều rượu cũng làm tổn thương Tỳ Vị, thấp nhiệt nội sinh, nung nấu Can, Đởm dẫn đến vàng da, đau sườn, mệt mỏi, chán ăn. Ngoài ra, người bệnh do cảm phải tà khí dịch lệ sinh ra nhiệt độc công phá bên trong làm cho phần vinh, huyết bị tổn thương. Nhiệt độc thãm vào Tâm bào gây nên hoàng đản cấp, sốt cao, mê man, nói sảng, chảy máu cam, tiêu ra máu... Chẩn Đoán
1. Chẩn đoán xác định theo: a. Yếu tố dịch tễ: tình hình dịch bệnh, tiếp xúc bệnh nhân, lịch sử truyền máu, chích thuốc, châm cứu, nhổ răng... b. Triệu chứng lâm sàng: chán ăn, rối loạn tiêu hóa, mệt mỏi, vàng da, gan to, vùng gan đau... c. Hội chứng hủy hoại tế bào gan: Transaminase tăng: GPT (ALT) tăng nhiều hơn GOT (AST) tăng rất cao gấp 5- 10 lần trị số bình thường. d. Tìm chứng cớ nhiễm vi rút: HBSAG (kháng nguyên bề mặt của vi rút viêm gan B) dương tính trong HBV, còn đối với HAV thì phân lập vi rút trong phân và xuất hiện IGM kháng HAV trong huyết thanh. e. Các phương pháp kiểm tra gan bằng siêu âm và sinh thiết gan. 2. Chẩn đoán phân biệt và chú ý: a. Viêm gan thời kỳ đầu và thể không vàng da: dễ bị bỏ qua do nghĩ viêm họng, cảm mạo, rối loạn tiêu hóa. Cần hỏi kỹ lịch sử tiếp xúc và tình hình dịch bệnh. b. Viêm gan do nhiễm độc, nhiễm trùng trong các bệnh thương hàn, viêm ruột do trực khuẩn coli gây vàng da, SGOT, SGPT máu tăng nhưng sốt kéo dài, có triệu chứng riêng của bệnh. c. Vàng da do bệnh xoắn trùng: có ban chẩn, cơ bắp đau, anbumin niệu, xoắn trùng trong máu, thử nghiệm ngưng kết huyết thanh dương tính. d. Vàng da do tắc mật: tắc mật ở người lớn thường do sạn ống mật, u đầu tụy có triệu chứng riêng, cần cảnh giác. e. Vàng da do nhiễm độc thuốc: Chú ý hỏi tiền sử dùng thuốc như dùng thuốc có Thạch tín, Rimifon, Chlorproilazin, thuốc chống ung thư... f. Đau bung cấp do viêm gan cần phân biệt với viêm ruột thừa, giun chui ống mật, giun đường ruột... g. Ung thư gan: người gầy, gan to nhanh, đau nhiều. Tiên Lượng
Viêm gan do vi rút A nếu có chế độ nghỉ ngơi, chăm sóc ăn uống tốt thường được hồi phục trong vòng 10-15 ngày, ít khi kéo dài. Viêm gan vi rút B dễ chuyển thành mạn tính, một số ít tiến triển thành xơ gan rất ít trường hợp chuyển thành ung thư gan. Điều Trị Bằng YHCT
Theo YHCT, viêm gan vàng da thuộc phạm trù chứng Hoàng đản, phép trị chính là: Thanh nhiệt trừ thấp, lương huyết, giải độc (đối với viêm gan cấp, thể tối cấp), sơ can, kiện tỳ, hòa vị, tiêu thực (đối với thể không vàng da, thời kỳ hồi phục), hoạt huyết, hóa ứ (đối với viêm gan mạn, xơ gan). Tùy theo tính chất bệnh mà dùng phép trị thích hợp. VIÊM GAN CẤP
Thường gặp 3 thể: 1.Thấp nhiệt: Da mắt vàng tươi, bứt rứt khó chịu, người nóng, bực tức, chán ăn miệng đắng khô, bụng đầy hoặc nôn, buồn nôn, mệt mỏi, ngứa hoặc không, tiểu ít vàng như nước vối, táo bón, rìa lưỡi đỏ, rêu vàng nhớt, mạch Huyền Hoạt, Sác hoặc Nhu Sác. Pháp: Thanh lợi thấp nhiệt. Dùng bài Nhân Trần Cao Thang gia giảm: | Nhân trần | 40 | Chi tử | 12 | Sinh đại hoàng | 8 | Bồ công anh | 10 | Thổ phục | 10 | | | | |
Trường hợp thấp năïng thêm Hậu phác, Thương truật, Trạch tả. Nhiệt thịnh thêm Hoàng bá, Thạch cao. 2. Nhiệt độc (Thể nặng và rất nặng): Triệu chứng: khát, bứt rứt, vàng da nặng lên rất nhanh, ngực bụng đầy tức, táo bón, tiểu vàng đỏ, nặng thì hôn mê, nói sảng, co giật, tiêu tiểu có máu, lưỡi đỏ thẫm, rêu vàng nhớt, khô, mạch Hoạt Sác. Pháp: Thanh nhiệt, giải độc, lương huyết, cứu âm | Tê giác | 30 | Sinh địa | 20 | Xích thược | 12 | Đan bì | 12 | Chi tử | 12 | Nhân trần | 16 | Bản lam căn | 40 | Thạch hộc | 12 | | | | | | |
Nếu sốt cao mê man: thêm An Cung Ngưu Hoàng hoặc Chí Bảo Đơn để thanh tâm, khai khiếu. 3. Can Vị Bất Hòa (thể viêm gan không vàng da, thời kỳ hồi phục): mạn sườn đau tức, bụng trên đầy hơi, buồn nôn hoặc nôn, ợ hơi, miệng đắng, chán ăn, chất lưỡi đỏ nhợt, mạch Huyền. Pháp: Sơ Can, hòa Vị. Dùng bài Sài Hồ Sơ Can Tán gia giảm: Sài hồ, Bạch thược, Hương phụ đều 12g, Chỉ xác, Trần bì, Xuyên khung, Chích thảo đều 6g. Có triệu chứng thấp nhiệt thêm Hoàng bá, Nhân trần. Ngực đau nhiều thêm Uất kim. Nôn, buồn nôn thêm Gừng tươi, Bán hạ, Trúc nhự. Trường hợp có triệu chứng Tỳ hư, dùng bài Tiêu Dao Tán gia giảm. VIÊM GAN MẠN TÍNH
Thường gặp 2 thể: 1. Can tỳ bất hòa: bệnh nhân không sốt, da không vàng hoặc vàng nhẹ, gan còn sờ được dưới bờ sườn, mạn sườn đầy tức hoặc ấn đau, chán ăn, đầy bụng, rối loạn tiêu hóa, rêu lưỡi dày nhớt, mạch Huyền Hoạt. Pháp: Sơ Can, kiện Tỳ. Bài thuốc: Tiêu Dao Tán gia giảm: | Đương qui | 12 | Sài hồ | 12 | Bạch truật | 12 | Bạch linh | 12 | Hà thủ ô | 12 | Uất kim | 12 | Bạch thược | 20 | Đan sâm | 8 | Trần bì | 8 | Hậu phác | 8 | Cam thảo | 4 | Sinh khương | | | | | | | |
Bệnh nhân mệt mỏi nhiều thêm Nhân sâm 8g (hoặc Đảng sâm 12g), huyết kém hay chóng mặt, mắt mờ thêm Tang thầm, Kỷ tử. Sắc da còn vàng thêm Nhân trần, Chi tử. 2. Khí huyết ứ trệ: Sắc mặt kém tươi nhuận, môi thâm tím, gan to, ấn đau, mạn sườn đau tức, lưỡi tím hoặc có điểm ứ huyết, rêu vàng, mạch Huyền Sáp hoặc Trầm Khẩn. Pháp: Hoạt huyết, hóa ứ. Bài thuốc: Huyết Phủ Trục Ứ Thang gia giảm | Đương qui | 12 | Sinh địa | 12 | Ngưu tất | 12 | Sài hồ | 12 | Uất kim | 12 | Bạch truật | 12 | Bạch thược | 10 | Xích thược | 10 | Xuyên khung | 8 | Đào nhân | 8 | Hồng hoa | 6 | Trần bì | 8 | Hậu phác | 8 | | | | |
Gan to cứng thêm Miết giáp, Mẫu lệ; Bụng đầy hơi thêm Mộc hương, Sa nhân; Vùng gan đau nhiều thêm Nhũ hương, Một dược. Trường hợp khí hư thêm Nhân sâm (hoặc Đảng sâm), Hoàng kỳ. 3. Can âm bị thương tổn Đầu choáng, hồi hộp, ít ngủ, haymê, bàn tay bàn chân nóng, khát nước, miệng khô, họng khô, hay tức giận, chất lươi đỏ , Táo , nước tiểu vàng, mạch huyền tế sác Pháp: Bổ can âm(tư dưỡng can âm, tư âm dưỡng can) Viêm gan can âm hư | Sa sâm | 15 | Thục địa | 12 | Mạch môn | 12 | Thiên môn | 8 | Kỉ tử | 12 | Huyết dụ | 16 | Hoài sơn | 16 | ý dĩ | 16 | Hà thủ ô | 12 | Sinh địa | 12 | Trinh nữ tử | 12 | Bạch thược | 12 | Táo nhân | 12 | Địa cốt bì | | | |
Bệnh viêm gan siêu vi tuy trên lâm sàng thường gặp các thể trên đây nhưng thường lẫn lộn vì vậy cần chú ý khi biện chứng luận trị. Những Điều Cần Chú Ý Trong Điều Trị Bệnh Viêm Gan Siêu Vi Bệnh nhân cần có chế độ sinh hoạt điều độ, nghỉ ngơi đầy đủ, không lao động trí óc hoặc chân tay quá sức gây mệt mỏi. Về chế độ ăn, cần dùng các thức ăn dễ tiêu như rau đậu, trái cây, sữa, cá, thịt nạc, cũng không nên ăn nhiều vì thịt là loại thức ăn khó tiêu đối với người đau gan, rất hạn chế ăn các chất dầu mỡ. Không ăn các chất cay nóng như ớt, tiêu, rượu, thuốc lá... Lúc chức năng gan kém cần thận trọng lúc dùng thuốc trụ sinh hoặc các loại thuốc cổ truyền có độc như Phụ tử, Ô đầu, Nhũ hương, Một dược, Tam lăng, Nga truật... Bệnh nhân viêm gan siêu vi A thời kỳ cấp tính nên nằm viện cách ly ít nhất 30 ngày sau khi phát hiện vàng da, bệnh chưa khỏi thời gian cách ly dài hơn. Những trang liên quan tới viêm gan
|
Nhiễm virut viêm gan B, điều trị như thế nào?
Monday, 06 April 2009 21:10
Nhiễm virut viêm gan B, điều trị như thế nào?
Hiện nay ở Việt Nam, tỷ lệ người bị nhiễm virut viêm gan B là khoảng 15-20% dân số. Nghĩa là cứ 100 người thì có tới 15-20 người bị nhiễm virut viêm gan B. Tuy nhiên, không phải ai bị nhiễm virut viêm gan B cũng cần phải điều trị. Việc điều trị bằng các thuốc kháng virut chỉ được tiến hành khi có dấu hiệu rõ ràng virut viêm gan B đang nhân lên và có phá hủy tế bào gan (biểu hiện bằng men gan tăng lên bằng hoặc trên 2 lần giá trị bình thường). Nếu không hề có dấu hiệu virut nhân lên, không có men gan tăng, thì hoàn toàn không cần phải điều trị gì cả, chỉ cần định kỳ theo dõi là đủ. Những trường hợp này được gọi là người mang virut viêm gan B mạn tính đơn thuần. Cần phải chú ý rằng, những người này tuy không bị bệnh, nhưng lại có thể lây truyền virut viêm gan B giống như tất cả các bệnh nhân viêm gan B khác. Nếu có dấu hiệu của virut nhân lên kèm theo phá hủy tế bào gan thì có chỉ định dùng các loại thuốc kháng virut. Các thuốc này có 2 dạng, dạng uống như các thuốc lamivudin, adefovir, entecavir và dạng tiêm như PEG interferon; interferon alpha. Các thuốc có thể được sử dụng đơn độc hoặc kết hợp cũng như thời gian sử dụng tùy thuộc vào từng trường hợp cụ thể. Hiện nay, việc chẩn đoán xem virut viêm gan B có nhân lên hay không chủ yếu phải dựa vào định lượng HBV-DNA. Xét nghiệm này hiện tại chỉ được thực hiện tại một số trung tâm. Còn các xét nghiệm về men gan có thể thực hiện được dễ dàng tại các bệnh viện và một số trung tâm khám bệnh và chẩn đoán.
Last Updated ( Monday, 06 April 2009 21:14 )
CÁC THỨC ĂN CÓ TÁC DỤNG GIẢI ĐỘC
Wednesday, 29 October 2008 13:50
Giải độc gan
CÁC THỨC ĂN CÓ TÁC DỤNG GIẢI ĐỘC Cà rốt có tác dụng giải độc thủy ngân do có một lượng lớn chất kết dính với thủy ngân, làm giảm nồng độ và loại trừ nhanh chóng các ion thủy ngân trong máu. Sự xuất hiện của mụn trứng cá, chứng hôi miệng, táo bón, đau đầu… có thể là những tín hiệu thông báo sự tồn đọng của chất độc trong cơ thể. Khi sức khoẻ bị đe dọa thì việc loại trừ độc tố cho cơ thể là vô cùng cần thiết và phải thực hiện hằng ngày. Lựa chọn thực phẩm có tác dụng giải độc, đồng thời kiên trì một chế độ vận động thường xuyên là cách tốt nhất để chúng ta nói lời tạm biệt với những độc tố trong cơ thể.
Mộc nhĩ đen: Người làm những ngành nghề có liên quan đến bông vải, sợi, đay… nên dùng nhiều mộc nhĩ đen, vì mộc nhĩ đen có tác dụng bài trừ chất sợi, khiến cho những chất sợi có hại này không thể tồn tại trong cơ thể. Chất keo thực vật trong mộc nhĩ đen có sức hút và kết dính cao, có thể hút thấm hết những tạp chất còn trong hệ tiêu hoá, giúp máu trở nên “sạch” hơn, đồng thời còn làm hạ cholesteron, phòng chống xơ cứng mạch máu.
Mướp đắng: Thông thường, những thực phẩm có vị đắng đều ít nhiều có tác dụng giải độc. Mướp đắng giúp giải độc, tiêu nhiệt trong cơ thể và làm sáng mắt. Các nhà khoa học đã phát hiện trong loại quả này một loại protein hoạt tính có tác dụng phòng ngừa ung thư rõ rệt. Nó kích thích tác dụng “phòng ngự” của hệ miễn dịch, loại trừ độc tố trong cơ thể. Đậu phụ: Những chế phẩm từ đậu nành có lượng canxi vô cùng phong phú, vì thế chúng được mệnh danh là những “chiến sĩ giải độc”. Táo tây: Ruột là nơi có khả năng bài trừ độc tố một cách nhanh chóng. Nếu hệ tiêu hóa không tốt, các độc tố sẽ tích tụ tại ruột và bị hấp thụ trở lại vào máu, rất có hại cho cơ thể. Trong táo tây có một lượng chất xơ và chất kết dính thiên nhiên phong phú, phòng ngừa thức ăn phân hủy trong ruột.
Dưa chuột: Thận là cơ quan quan trọng bậc nhất trong quá trình bài trừ độc tố, có chức năng lọc những chất độc trong máu và những cặn bã sinh ra sau quá trình phân giải các protein, rồi bài tiết chúng ra ngoài qua nước tiểu. Dưa chuột có công dụng lợi tiểu nên có thể làm sạch niệu đạo, góp phần giúp thận thải ra ngoài những chất độc trong ống tiểu. Ngoài ra, dưa leo còn có tác dụng hỗ trợ giải độc cho phổi, gan và dạ dày.
Mật ong: Từ xưa, mật ong đã nổi tiếng là loại thực phẩm giải độc và làm đẹp. Trong mật ong có nhiều vitamin và acid amin thiết yếu cho cơ thể con người. Dùng mật ong thường xuyên có tác dụng bài trừ độc tố, đồng thời cũng có tác dụng nhất định trong việc phòng chống các bệnh về mạch máu hoặc các chứng suy nhược thần kinh.
Đậu xanh: Đậu xanh có vị ngọt, mát, có tính giải độc cao. Ngoài ra, đậu xanh còn có tác dụng nhất định trong việc phòng trị trúng độc kim loại, thuốc trừ sâu và trúng độc thực phẩm. Đậu xanh thúc đẩy quá trình bài tiết tống các chất độc ra khỏi cơ thể.
Tỏi: Trong tỏi có chứa những thành phần đặc biệt, giúp làm giảm nồng độ chì trong cơ thể.
Nho: Gan cũng là một cơ quan giải độc quan trọng cho cơ thể. Các độc tố sau khi tham gia vào một chuỗi các phản ứng hóa học ở gan sẽ biến thành những chất không độc hoặc lượng độc tố đã giảm hẳn. Nho có tác dụng giúp gan “quét” đi những chất độc trong cơ thể, đồng thời còn có ích cho quá trình tái tạo máu.
Trà: Những thành phần trong lá trà cùng một lượng vitamin C phong phú có tác dụng nhanh chóng loại trừ chất độc ra khỏi cơ thể. (Theo Sức Khỏe & Đời Sống)
|